Một số vấn đề cần rút kinh nghiệm sau đợt thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng tại TP Hà Nội
Trong
các lĩnh vực thanh tra chuyên ngành thì thanh tra trong lĩnh vực công
chứng là tương đối khó khăn và phức tạp vì giao dịch, hợp đồng, thỏa
thuận dân sự là phổ biến nhưng rất đa dạng phong phú, phức tạp trong xã
hội và liên quan đến rất nhiều các văn bản pháp luật khác nhau, điều
chỉnh các hành vi và các mối quan hệ khác nhau...Không thể hy vọng trong
một bài viết, một cuộc thanh tra sẽ nói lên đầy đủ những nội dung trên.
Tác giả hy vọng bạn đọc sẽ rút ra được một số vấn đề góc cạnh từ bài
viết này.
Thực
hiện Quyết định số 4111/QĐ-BTP ngày 30/12/2009 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp
về việc phê duyệt Kế hoạch công tác thanh tra năm 2010, Chánh thanh tra
Bộ đã ban hành Quyết định số 05/QĐ-TTR ngày 15/4/2010 thành lập Đoàn
thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng tại thành phố Hà Nội và
Quyết định số 07/QĐ-TTR ngày 23/4/2010 bổ sung thành viên Đoàn thanh
tra, theo đó, Đoàn Thanh tra sẽ do Thanh tra Bộ Tư pháp chủ trì với sự
phối hợp của Vụ Bổ trợ Tư pháp và Sở Tư pháp thành phố Hà Nội, thời hạn
thanh tra là 30 ngày làm việc (không kể ngày nghỉ, ngày lễ).
Thực
hiện các Quyết định nêu trên, trong khoảng thời gian từ ngày 24/4/2010
đến ngày 09/6/2010 (30 ngày làm việc), Đoàn đã tiến hành thanh tra 20 Tổ
chức hành nghề công chứng (bao gồm 8 Phòng công chứng và 11 Văn phòng
công chứng, riêng Phòng Công chứng số 3 mặc dù đã có lịch thanh tra
nhưng do thời gian chuyển trụ sở làm việc của Phòng trùng với thời gian
thanh tra nên Đoàn đã tạm dừng tiến hành thanh tra). Trong quá trình
thanh tra, xét thấy để có thể đánh giá tổng thể về tổ chức và hoạt động
của các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn Thành phố, Đoàn Thanh
tra cần phải tiến hành thanh tra toàn bộ các tổ chức hành nghề công
chứng, nên Trưởng Đoàn thanh tra đã đề nghị Chánh Thanh tra gia hạn thời
hạn thanh tra và ngày 24/5/2010, Chánh Thanh tra Bộ đã ban hành Quyết
định số 11/QĐ-TTR gia hạn thời hạn thanh tra thêm 30 ngày làm việc.
Trên
cơ sở Quyết định này, Đoàn thanh tra dự kiến sẽ tiến hành thanh tra
toàn bộ các Tổ chức hành nghề công chứng còn lại, trừ Văn Phòng công
chứng Việt Tín. Tuy nhiên, thực hiện chương trình công tác tư pháp năm
2010 và sự chỉ đạo của UBND thành phố Hà Nội v/v rà soát báo cáo tình
hình hoạt động và công tác quản lý nhà nước đối với các Văn phòng công
chứng trên địa bàn Thành phố tại Văn bản số 2626/UBND-NC ngày 16/4/2010,
Sở Tư pháp thành phố dự kiến sẽ tiến hành thanh tra 14 Văn phòng công
chứng vào tháng 6 năm 2010. Do vậy, ngày 31/5/2010, Sở Tư pháp Hà Nội đã
có văn bản số 796/STP-BTTP, đề nghị Thanh tra Bộ xem xét, điều chỉnh Kế
hoạch thanh tra. Xét thấy đề nghị trên của Sở Tư pháp Hà Nội là chính
đáng và để tránh sự chồng chéo trong công tác thanh tra, ngày 08/6/2010,
Chánh Thanh tra Bộ đã ban hành Quyết định số 13/QĐ-TTR thu hồi Quyết
định ra hạn thời hạn thanh tra. Do vậy, cho đến nay Đoàn thanh tra công
tác công chứng tại thành phố Hà Nội đã kết thúc thanh tra tại địa phương
và đang tiến hành chuẩn bị báo cáo kết quả thanh tra.
Sau
khi tổng hợp các tài liệu, chứng cứ thanh tra, tác giả xin khái quát
kết quả thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực công chứng tại thành phố
Hà Nội như sau:
I. VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC CÔNG CHỨNG TẠI HÀ NỘI
Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực công chứng, Sở Tư pháp thành phố Hà Nội đã thực hiện các công việc sau:
-
Tham mưu cho UBND Thành phố ban hành Quyết định phân định thẩm quyền
công chứng các hợp đồng, giao dịch trên địa bàn thành phố Hà Nội;
-
Hoàn thành dự thảo Đề án phát triển tổ chức hành nghề công chứng tại
thành phố Hà Nội năm 2008; Trình UBND Thành phố phê duyệt Đề án phát
triển tổ chức hành nghề công chứng năm 2009 và xây dựng xong dự thảo Đề
án thành lập Hiệp hội các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn
thành phố Hà Nội.
-
Xây dựng quy trình thủ tục hành chính trong lĩnh vực cấp đăng ký hoạt
động cho các Văn phòng công chứng trên đại bàn thành phố Hà Nội.
-
Tiếp nhận, xem xét, thẩm định hồ sơ đề nghị thành lập Văn phòng công
chứng; trình UBND Thành phố ký Quyết định cho phép thành lập và cấp đăng
ký hoạt động cho 42 Văn phòng công chứng;
-
Hướng dẫn các Văn phòng công chứng các thủ tục thực hiện việc chuyển
đổi loại hình doanh nghiệp từ Doanh nghiệp tư nhân sang loại hình Công
ty hợp danh;
-
Tổ chức 01 lớp tập huấn nghiệp vụ công chứng và các nghiệp vụ văn phòng
có liên quan đến hoạt động công chứng cho gần 200 cán bộ, nhân viên của
42 Văn phòng công chứng;
- Tổ chức hội thảo về công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội;
- Xây dựng Kế hoạch tiến hành kiểm tra định kỳ và đột xuất công tác tổ chức và hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng;
- Tổ chức công tác giao ban hoạt động công chứng giữa các tổ chức hành nghề công chứng;
- Tổng hợp, báo cáo định kỳ về công tác quản lý hoạt động công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Ngoài
ra, Sở Tư pháp Hà Nội còn tham gia góp ý các dự thảo văn bản quy phạm
pháp luật liên quan đến lĩnh vực công chứng khi có yêu cầu.
II. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Theo
báo cáo của Sở Tư pháp và báo cáo của các tổ chức hành nghề công chứng
tại Hà Nội, tính đến thời điểm thanh tra trên địa bàn Thành phố có 51 tổ
chức hành nghề công chứng (bao gồm 9 Phòng Công chứng và 42 Văn phòng
công chứng) được thành lập và cấp phép hoạt động, trong đó có 50 Tổ chức
đang hoạt động và 01 Tổ chức tạm thời ngừng hoạt động (Văn phòng Công
chứng Việt Tín). Tuy nhiên, cho đến nay Đoàn Thanh tra mới nhận được báo
cáo của 48 Tổ chức hành nghề công chứng (Văn phòng công chứng Lạc Việt,
Công Minh không có báo cáo). Khái quát tình hình tổ chức và hoạt động
của các tổ chức hành nghề công chứng như sau:
- Về thành lập:
+
Đối với các Phòng công chứng: Từ năm 1992 đến năm 2007, Hà Nội có 06
Phòng công chứng được thành lập. Thực hiện Nghị quyết số 15/NQ-QH12 của
Quốc hội khóa 12 về mở rộng địa giới hành chính của Hà Nội và một số
tỉnh có liên quan, Hà Nội tiếp nhận thêm 02 Phòng Công chứng của Hà Tây
và 01 Phòng Công chứng của Vĩnh Phúc nâng tổng số Phòng Công chứng của
Hà Nội lên 09 Phòng Công chứng.
+ Đối với các Văn phòng công chứng:
Triển khai, thực hiện Luật Công chứng năm 2006, năm 2008, Hà Nội đã thành lập 29 Văn
phòng công chứng và năm 2009 thành lập thêm 10 Văn phòng. Cho đến nay,
Hà Nội có 42 Văn phòng công chứng được cấp phép hoạt động. Trong đó, có
có 14 Văn phòng được thành lập theo mô hình Công ty hợp danh và 28 Văn
phòng thành lập theo mô hình Doanh nghiệp tư nhân
- Về tổ chức:
Tính
đến thời điểm 31/3/2010, các tổ chức hành nghề công chứng tại Hà Nội có
107 Công chứng viên và 559 nhân viên đang làm việc, trong đó, các Phòng
công chứng có 45 Công chứng viên và 119 nhân viên; các Văn phòng công
chứng có 62 Công chứng viên (bao gồm: 03 Công chứng viên chuyển từ Thẩm
phán sang; 13 Công chứng viên chuyển từ Kiểm sát viên; 32 Công chứng
viên chuyển từ Luật sư; 04 Công chứng viên chuyển từ các tỉnh về Hà Nội;
09 Công chứng viên chuyển từ Công chứng viên và nhân viên các Phòng
Công chứng và 01 Công chứng viên thuộc các trường hợp khác).
- Về hoạt động:
Từ
năm 2007 đến 31/3/2010, 48 tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn
Thành phố đã công chứng được 308.684 việc. Số liệu cụ thể được thể hiện
chi tiết theo bảng dưới đây:
|
TÊN TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG |
SỐ VIỆC CÔNG CHỨNG ĐÃ THỰC HIỆN |
GHI CHÚ |
|
2007 |
2008 |
2009 |
QI/2010 |
|
Các Phòng công chứng |
44.519 |
61.510 |
55.893 |
15.540 |
|
|
Các Văn phòng công chứng |
0 |
11.180 |
85.124 |
34.918 |
Tổng hợp số liệu của 39 VPCC có báo cáo |
|
Tổng |
44.519 |
72.690 |
141.017 |
50.458 |
|
- Về cơ sở vật chất:
Kể từ khi được thành lập đến nay, các Tổ chức hành nghề công chứng trên
địa bàn thành phố đã không ngừng được hoàn thiện về cơ sở vật chất. Đa
số các Tổ chức có trụ sở khang trang, với trang thiết bị hiện đại, đáp
ứng được cơ bản yêu cầu của người yêu cầu công chứng. Bên cạnh đó, một
số tổ chức hành nghề công chứng trụ sở làm việc còn chật chội, chưa tách
bạch giữa văn phòng công chứng và tổ chức hành nghề luật sư nên chưa
đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của người yêu cầu công chứng.
II. KẾT QUẢ THANH TRA 19 TỔ CHỨC HÀNH NGHỀ CÔNG CHỨNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1. Về tổ chức hành nghề công chứng
Thực
hiện các quy định của Luật Công chứng năm 2006 và Nghị định số 02/NĐ-CP
ngày 04/01/2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số
điều của Luật Công chứng. Các Tổ chức hành nghề công chứng đã chấp hành
tương đối đầy đủ nghĩa vụ của Tổ chức hành nghề công chứng. Cụ thể: Sau
khi có Quyết định cho phép thành lập và được cấp giấy phép hoạt động,
các Văn phòng công chứng được thanh tra đã tiến hành đăng báo nội dung
đăng ký hoạt động của Văn phòng theo đúng quy định tại Điều 30 Luật Công
chứng. Hầu hết các Tổ chức hành nghề công chứng đều niêm yết lịch làm
việc, thủ tục công chứng, phí công chứng, thù lao công chứng; Thực hiện
chế độ làm việc theo ngày, giờ làm việc của cơ quan hành chính nhà nước;
Chấp hành các quy định của pháp luật về lao động, thuế, tài chính,
thống kê; Chấp hành các yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về
việc báo cáo, thanh tra, kiểm tra; lưu trữ hồ sơ công chứng...
Tuy nhiên, vẫn còn tổ chức chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của Tổ chức hành nghề công chứng. Cụ thể:
Tại
thời điểm thanh tra, Văn phòng công chứng Thăng Long đã không niêm yết
thù lao công chứng, Đoàn thanh tra đã tiến hành lập biên bản vi phạm
hành chính và trình Phó Chánh Thanh tra ra Quyết định xử phạt.
Mặt
khác, trong tổng số 12 Văn phòng công chứng được thanh tra, mới có 05
Văn phòng công chứng (Thăng Long, Tuệ Tĩnh, Hồ Gươm, Nguyễn Tú, Thái Hà)
thực hiện việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công chứng viên
của tổ chức mình.
2. Về nghiệp vụ công chứng
Qua
thanh tra cho thấy, về cơ bản các tổ chức hành nghề công chứng đã tuân
thủ các quy định của pháp luật trong việc thực hiện nghiệp vụ công
chứng. Hầu hết các hợp đồng, giao dịch được công chứng viên thực hiện
theo đúng trình tự thủ tục công chứng và xem xét đầy đủ căn cứ pháp lý
trước khi ký. Rất ít hợp đồng giao dịch vi phạm pháp luật đến mức phải
hủy. Bên cạnh đó, việc chấp hành các quy định của pháp luật về công
chứng của các tổ chức hành nghề công chứng trên địa bàn thành phố Hà Nội
vẫn còn tồn tại nhiều thiếu sót, vi phạm. Kết quả cụ thể được thể hiện
sau đây:
2.1. Về lời chứng của công chứng viên
-
Tại Điều 5 Luật Công chứng quy định: Lời chứng của công chứng viên phải
ghi rõ thời gian, địa điểm công chứng, họ, tên công chứng viên, tên tổ
chức hành nghề công chứng; chứng nhận người tham gia hợp đồng, giao dịch
hoàn toàn tự nguyện, có năng lực hành vi dân sự, mục đích, nội dung của
hợp đồng, giao dịch không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội,
đối tượng của hợp đồng, giao dịch là có thật, chữ ký trong hợp đồng,
giao dịch là đúng chữ ký của người tham gia hợp đồng, giao dịch; có chữ
ký của công chứng viên và đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng.
-
Tuy nhiên, trên thực tế hầu hết các tổ chức hành nghề công chứng được
thanh tra đều thực hiện chưa đúng quy định của điều luật này, cụ thể:
Hầu
hết lời chứng của công chứng viên Văn phòng công chứng Thái Hà, Tuệ
Tĩnh, Hồ Gươm, Nguyễn Tú, Kinh Đô, Vạn Xuân, Thăng Long; Phòng Công
chứng số 6, số 7, số 8, số 9 vẫn sử dụng cụm từ “nội dung của hợp đồng,
giao dịch phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội”.
Một số lời chứng của công chứng viên Phòng công chứng số 1 thiếu ngày, tháng; thiếu cụm từ “không trái đạo đức xã hội”;
Một số lời chứng của công chứng viên Phòng Công chứng số 6, số 7 thiếu tên của công chứng viên.
Một
số lời chứng của Phòng Công chứng số 1, số 4, số 6, số 7; Văn phòng
công chứng Kinh Đô, Vạn Xuân lời chứng mẫu thuẫn với hợp đồng giao dịch
như: địa điểm tài sản giao dịch không khớp; hợp đồng thuê trụ sở đặt
biển quảng cáo nhưng lời chứng lại chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng.
-
Với các sai phạm trên, Đoàn Thanh tra cho rằng nguyên nhân chính là do
kỹ năng hành nghề chưa cao nên có nhiều sai sót về mặt kỹ thuật nêu
trên. Đoàn Thanh tra đã yêu cầu các Tổ chức hành nghề công chứng có vi
phạm nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm và kịp thời chấn chỉnh, khắc
phục.
2.2. Về lưu trữ hồ sơ công chứng
Hồ
sơ công chứng của các tổ chức hành nghề công chứng đều lưu trữ tương
đối đầy đủ các văn bản và giấy tờ cần thiết. Hồ sơ được đánh số theo
đúng thứ tự thời gian phù hợp với việc ghi trong sổ công chứng.
Việc
lưu trữ hồ sơ công chứng về cơ bản đáp ứng được yêu cầu của quản lý.
Đặc biệt, Phòng Công chứng số 1, số 2; Văn phòng công chứng Thăng Long;
Tuệ Tĩnh; Nguyễn Tú… việc lưu trữ hồ sơ được thực hiện một cách khoa
học. Cụ thể: Các hồ sơ đều được đánh bút lục, có danh mục hồ sơ lưu,
việc sắp xếp hồ sơ khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tra cứu.
Tuy
nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số tổ chức hành nghề công chứng thực
hiện chưa tốt quy định của pháp luật về lưu trữ hồ sơ. Cụ thể:
Hồ
sơ công chứng của Phòng công chứng số 5, số 6, số 9; Văn phòng công
chứng Kinh Đô; Vạn Xuân không có danh mục hồ sơ, cá biệt hồ sơ công
chứng của Văn phòng công chứng Đống Đa không được đánh số trang không có
danh mục hồ sơ và không có ký duyệt của người có thẩm quyền đã được đưa
vào lưu trữ.
Một số hồ sơ công chứng của Phòng công chứng số 7, số 9 được lưu gộp nhiều hồ sơ.
2.3. Về sổ công chứng
Sổ
công chứng của một số tổ chức hành nghề công chứng vẫn còn tình trạng
trống số, trùng số. Thậm chí, Văn phòng công chứng Đống Đa một số hồ sơ
công chứng không được vào số; Văn phòng công chứng Nguyễn Tú Sổ công
chứng nhàu nát, ghi chép cẩu thả, bị tẩy xóa nhiều. Việc ghi tóm tắt nội
dung hợp đồng, giao dịch ở một số tổ chức hành nghề công chứng còn sơ
sài, không phản ánh được hết nội dung hợp đồng, giao dịch. Tuy nhiên,
hiện nay, vẫn chưa có quy định nào hướng dẫn chi tiết việc ghi sổ công
chứng và cũng không có mẫu sổ thống nhất.
2.4. Về thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch:
Qua
thanh tra cho thấy tất cả các Tổ chức hành nghề công chứng đều vi phạm
các quy định của pháp luật về thủ tục công chứng. Mặc dù số lượng các hồ
sơ vi phạm không phải là quá nhiều. Nhưng hầu như quy định nào cũng có
hành vi vi phạm. Cụ thể:
2.4.1. Về hồ sơ công chứng
Theo
quy định tại khoản 1 Điều 35 Luật Công chứng, khi yêu cầu công chứng,
người yêu cầu công chứng phải nộp một bộ hồ sơ yêu cầu công chứng, gồm
các giấy tờ sau: Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch theo mẫu;
Dự thảo hợp đồng, giao dịch; Bản sao giấy tờ tuỳ thân; Bản sao giấy
chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế
được pháp luật quy định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng
ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, trong trường hợp hợp đồng, giao dịch
liên quan đến tài sản đó; Bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp
đồng, giao dịch mà pháp luật quy định phải có.
Tuy nhiên, qua thanh tra cho thấy nhiều hồ sơ công chứng không có đầy đủ các loại giấy tờ nêu trên. Cụ thể:
- Về phiếu yêu cầu công chứng: Một
số hồ sơ công chứng của Phòng Công chứng số 8; Văn phòng công chứng
Thăng Long, Đống Đa không có phiếu yêu cầu công chứng vi phạm điểm a
khoản 1 Điều 35 Luật công chứng. Tuy số lượng các hồ sơ vi phạm không
nhiều nhưng việc làm này cần phải được chấn chỉnh kịp thời.
Mặt
khác, Đoàn thanh tra cũng phát hiện thấy việc sử dụng mẫu phiếu yêu cầu
công chứng của các tổ chức hành nghề công chứng không thống nhất và có
Tổ chức mặc dù đề ra mẫu nhưng không ghi đầy đủ các thông tin có trong
mẫu. Tuy vậy, Đoàn thanh tra cũng không có cơ sở để kết luận việc làm
này của các Tổ chức hành nghề công chứng có vi phạm pháp luật hay không.
Bởi mặc dù tại điểm a, khoản 1, điều 35 Luật Công chứng quy định Phiếu
yêu cầu công chứng phải theo mẫu, song cho đến nay, vẫn chưa có văn bản
nào quy định về mẫu phiếu yêu cầu công chứng.
- Về bản sao giấy tờ tùy thân
Một
số hồ sơ công chứng của Phòng Công chứng số 4, số 7, số 8, số 9; Văn
phòng công chứng Đống Đa, Hoàng Cầu, Thái Hà thiếu chứng minh thư nhân
dân của các bên tham gia giao dịch;
Một
số hồ sơ của Phòng công chứng số 1, số 2, số 4, số 6, số 7, số 8; Văn
phòng công chứng Đống Đa; Hoàng Cầu; Hồ Gươm; Vạn Xuân không lưu chứng
minh thư nhân dân của cán bộ ngân hàng được ủy quyền tham gia ký kết hợp
đồng thế chấp tài sản trong trường hợp được ủy quyền theo vụ việc.
Tình
trạng công chứng viên cho phép các bên tham gia giao dịch sử dụng chứng
minh thư nhân dân quá hạn diễn ra ở hầu hết các Phòng công chứng và Văn
phòng công chứng.
Việc
công chứng viên của các Tổ chức hành nghề công chứng dễ dãi trong việc
tiếp nhận hồ sơ công chứng khi không có đầy đủ giấy tờ tùy thân rất dễ
gây nên tranh chấp và thực tế tại Phòng công chứng số 5 việc công chứng
viên cho phép các bên tham gia giao dịch sử dụng chính minh thư nhân dân
photo và xác nhận của chính quyền địa phương đã dẫn đến việc một bên
tham gia giao dịch giả mạo giấy tờ và hiện nay, cơ quan điều tra đang
tiến hành khởi tố công chứng viên vì thiếu trách nhiệm gây hậu quả
nghiêm trọng. Do vậy, Đoàn thanh tra đã yêu cầu các Tổ chức hành nghề
công chứng có vi phạm chấm dứt ngay hành vi vi phạm và kịp thời khắc
phục nhằm tránh những hậu quả đáng tiếc xảy ra.
Hiện
nay, đã có một số Tổ chức hành nghề công chứng gửi báo cáo kết quả khắc
phục cho Thanh tra Bộ. Theo báo cáo, hầu hết các hồ sơ vi phạm đã được
khắc phục, các tổ chức hành nghề công chứng đã được thanh tra hoặc chưa
được thanh tra đã tự chấn chỉnh các sai sót và tự khắc phục các hậu quả.
(Vì các sai phạm phổ biến của các tổ chức hành nghề công chứng được
Đoàn Thanh tra nhắc nhở đã được các tổ chức hành nghề công chứng chưa
được thanh tra tự điều chỉnh, khắc phục – Đây là tác dụng rõ rệt của
công tác thanh tra)
- Về bản sao các giấy tờ có liên quan đến hợp đồng, giao dịch
Theo
quy định tại điểm d, đ khoản 1 Điều 35 Luật Công chứng, khi yêu cầu
công chứng, người yêu cầu công chứng phải nộp bản sao giấy chứng nhận
quyền sở hữu, sử dụng hoặc bản sao giấy tờ thay thế được pháp luật quy
định đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, sử
dụng, trong trường hợp hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản đó và
bản sao giấy tờ khác có liên quan đến hợp đồng, giao dịch mà pháp luật
quy định phải có. Tuy nhiên, qua thanh tra cho thấy:
Một
số hồ sơ của Phòng công chứng số 1, số 4, số 5, số 6, số 7, số 9; Văn
phòng công chứng Tràng An, Đống Đa, Hoàng Cầu, Kinh Đô, Vạn Xuân thiếu
biên bản họp hội đồng thành viên trong trường hợp người ký hợp đồng,
giao dịch đại diện cho một pháp nhân có từ hai thành viên trở lên.
Một
số hồ sơ của Phòng công chứng số 7 thiếu bản sao biên bản định giá tài
sản trong khi hợp đồng ghi biên bản định giá tài sản là một phần không
thể tách rời của hợp đồng; Một hồ sơ của phòng công chứng số 9, biên bản
định giá có sau khi ký hợp đồng giao dịch và thậm chí tại Văn phòng
công chứng Hoàng Cầu, biên bản định giá tài sản còn có trước khi có giấy
chứng nhận quyền sử dụng tài sản được định giá.
Cá
biệt, tại Phòng công chứng số 5 và số 9 vẫn còn tình trạng hồ sơ thiếu
bản sao hợp đồng, giao dịch làm phát sinh quyền của người giao kết hợp
đồng (hợp đồng ủy quyền).
Hồ
sơ số 805/2010 của Phòng công chứng số 4 thông báo việc khai nhận di
sản thừa kế được lập trước khi có yêu cầu của người yêu cầu công chứng.
Một
số hồ sơ của Phòng công chứng số 2, số 5, số 6, số 7, số 8, số 9 thiếu
bản sao giấy xác nhận tình trạng hôn nhân để chứng minh quyền sở hữu, sử
dụng tài sản.
Một
số hồ sơ công chứng của Phòng Công chứng số 4, số 8; Văn phòng công
chứng Tràng An, Thái Hà, Hoàng Cầu, Nguyễn Tú thiếu bản sao sổ hộ khẩu,
bản sao giấy chứng nhận kết hôn, hoặc giấy chứng tử để xác định tình
trạng hôn nhân hoặc thành viên hộ gia đình.
Việc
xác nhận tình trạng hôn nhân ở một số hồ sơ của Phòng công chứng số 1,
số 2, số 6 và Văn phòng công chứng Tràng An thiếu chặt chẽ chỉ xác nhận
một giai đoạn. Về vấn đề này, theo giải trình của một số tổ chức hành
nghề công chứng, họ đã vận dụng hướng dẫn việc xác nhận tình trạng hôn
nhân của Vụ Hành chính tư pháp tại Công văn số 3834/BTP-HCTP ngày
10/9/2007. Tuy nhiên, qua trao đổi giữa Đoàn thanh tra và Vụ Hành chính
tư pháp thì Công văn trên chỉ hưóng dẫn việc xác nhận tình trạng hôn
nhân đối với trường hợp làm thủ tục đăng ký kết hôn còn các việc khác Vụ
không có hướng dẫn. Do vậy, để đảm bảo sự thuận tiện công dân có nhu
cầu xác nhận tình trạng hôn nhân và tạo sự thuận tiện cho các tổ chức
khi giải quyết các công việc liên quan đến giấy xác nhận tình trạng hôn
nhân, cần phải có những hướng dẫn cụ thể, chi tiết về việc xác nhận tình
trạng hôn nhân.
Qua
thanh tra cho thấy, có một số trường hợp công chứng viên đã “cho nợ”
chứng minh thư, hộ khẩu, giấy đăng ký kết hôn, giấy xác nhận tình trạng
hôn nhân, biên bản họp các thành viên công ty…Đoàn Thanh tra đã yêu cầu
chấm dứt ngay hành vi sai phạm này và Công chứng viên cần phải kiên
quyết khi đã nộp đủ các thủ tục, căn cứ pháp lý để chứng minh nhân thân,
tài sản thì công chứng viên mới được công chứng hợp đồng giao dịch.
2.4.2. Về việc tiếp nhận hồ sơ công chứng và kiểm tra hồ sơ công chứng:
Đối
với hợp đồng giao dịch, đã được soạn thảo sẵn: Theo quy định tại khoản 3
Điều 35 Luật Công chứng, công chứng viên có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ
và kiểm tra giấy tờ có trong hồ sơ công chứng. Khi thấy hồ sơ đầy đủ,
phù hợp với quy định của pháp luật thì thụ lý, ghi vào sổ công chứng.
Đối
với hợp đồng, giao dịch do công chứng viên soạn thảo theo đề nghị của
người yêu cầu công chứng: Theo quy định tại khoản 2 Điều 36, ngoài việc
thực hiện các quy định trên, công chứng viên còn có trách nhiệm soạn
thảo hợp đồng, giao dịch, trong trường hợp nội dung, ý định giao kết hợp
đồng, giao dịch là xác thực không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức
xã hội.
Tuy
nhiên, hiện nay hầu hết việc soạn thảo hợp đồng, giao dịch, ghi sổ công
chứng đều do chuyên viên, cán bộ pháp lý, cá biệt có trường hợp do cán
bộ ngân hàng thực hiện.
Việc
làm này tuy không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành. Nhưng
thực tế cho thấy với số lượng các hợp đồng, giao dịch và số lượng công
chứng viên như hiện nay để đáp ứng được yêu cầu của cá nhân, tổ chức có
nhu cầu công chứng thì việc để chuyên viên hoặc cán bộ pháp lý thực hiện
việc ghi sổ và soạn thảo hợp đồng giao dịch theo yêu cầu của công chứng
viên là hợp lý. Hơn nữa, việc làm này không làm ảnh hưởng đến tính an
toàn pháp lý của hợp đồng, giao dịch. Do vậy, trong thời gian tới quy
định này cần phải được sửa đổi cho phù hợp.
2.4.3. Về thẩm quyền công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản:
Hầu
hết các hợp đồng, giao dịch về bất động sản được các tổ chức hành nghề
công chứng thực hiện đúng thẩm quyền công chứng được quy định tại Điều
37 Luật Công chứng. Tuy nhiên, qua thanh tra đã phát hiện 01 hồ sơ của Phòng Công chứng số 9 đã vi phạm thẩm quyền công chứng hợp đồng, giao dịch về bất động sản (hồ
sơ 1320/2009/HĐTC, tài sản được thế chấp ở Bắc Ninh). Đoàn Thanh tra đã
yêu cầu công chứng viên của Phòng phải tiến hành các thủ tục cần thiết
để hủy ngay hợp đồng.
2.4.4. Về thời hạn công chứng
Qua
thanh tra không phát hiện thấy tổ chức hành nghề công chứng nào vi phạm
về thời hạn công chứng. Các hợp đồng, giao dịch đều được các tổ chức
hành nghề công chứng thực hiện một cách nhanh chóng, thuận tiện đáp ứng
được cơ bản yêu cầu của người yêu cầu công chứng.
2.4.5. Về địa điểm công chứng
Theo
quy định tại Điều 39 Luật Công chứng, việc công chứng phải được thực
hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng, trừ các trường hợp
người yêu cầu công chứng là người già yếu không thể đi lại được, người
đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính
đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng.
Thực
tế thanh tra cho thấy, số lượng các vụ việc công chứng ngoài trụ sở khá
nhiều. Ngoài các lý do người yêu cầu công chứng ốm, già yếu thì nhiều
hồ sơ yêu cầu công chứng ngoài trụ sở còn có lý do bận công tác, để bảo
quản giấy tờ, tài liệu gốc…; Thậm chí một số hồ sơ của Phòng công chứng
số 7, Văn phòng công chứng Thăng Long công chứng viên còn thực hiện việc
yêu cầu công chứng ngoài trụ sở mà không có lý do. Đoàn Thanh tra đã
nhắc nhở các tổ chức hành nghề công chứng thực hiện nghiêm túc quy định
của pháp luật về công chứng ngoài trụ sở. Đồng thời, tiến hành lập biên
bản và đề nghị Chánh Thanh tra Bộ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành
chính đối với Văn phòng công chứng Thăng Long.
2.4.6. Về ký, điểm chỉ trong văn bản công chứng
Theo
quy định tại khoản 6 điều 35 Luật Công chứng và Điều 41 Luật Công chứng
thì các bên tham gia giao dịch và công chứng viên phải ký vào từng
trang của hợp đồng, giao dịch và các bên tham gia giao dịch phải ký
trước mặt công chứng viên. Việc điểm chỉ được thay thế việc ký trong văn
bản công chứng khi người yêu cầu công chứng, người làm chứng không ký
được do khuyết tật hoặc không biết ký. Việc điểm chỉ cũng có thể được
thực hiện đồng thời với việc ký trong các trường hợp công chứng di chúc,
theo đề nghị của người yêu cầu công chứng và khi công chứng viên thấy
cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho người yêu cầu công chứng.
Thực
tế cho thấy đa số các hợp đồng, giao dịch đã được thực hiện theo đúng
quy định trên. Tuy nhiên, vẫn còn một số hợp đồng, giao dịch của một số
tổ chức hành nghề công chứng thực hiện chưa đúng. Cụ thể:
- Một hợp đồng, giao dịch thiếu chữ ký của các bên tham gia giao dịch như:
Một
số hợp đồng thế chấp tài sản của Phòng công chứng số 1, số 7, số 9; Văn
phòng công chứng Thăng Long, Thái Hà, Tuệ Tĩnh, Hồ Gươm, Nguyễn Tú,
Kinh Đô, Tràng An thiếu chữ ký của đại diện ngân hàng vào từng trang của
hợp đồng, thậm chí hồ sơ công chứng số 1402 /2009 của Văn phòng công
chứng Tràng An không có dấu của ngân hàng.
Một
số hợp đồng, giao dịch của Phòng công chứng số 2, số 5, số 6, số 7, số
9; Văn phòng công chứng Thái Hà và Tuệ Tĩnh thiếu chữ ký của thành viên
hộ gia đình trong trường hợp đối tượng của hợp đồng, giao dịch là tài
sản của hộ gia đình.
Một
số hợp đồng, giao dịch của Phòng công chứng số 7, văn phòng công chứng
Tuệ Tĩnh thiếu chữ ký của một bên vợ hoặc chồng trong trường hợp đối
tượng của hợp đồng, giao dịch là tài sản chung của vợ chồng.
Thậm
chí có hợp đồng còn thiếu chữ ký của công chứng viên như hồ sơ số
15716/2009 của Phòng công chứng số 1 thiếu chữ ký của công chứng viên
vào trang cuối của hợp đồng; hồ sơ số 1239/2009 của Văn phòng công chứng
Tràng An có dấu nhưng không có chữ ký của Công chứng viên; Hồ sơ số
1029/2009 của Văn phòng công chứng Kinh Đô thiếu chữ ký của công chứng
viên vào từng trang của hợp đồng
-
Vẫn còn tình trạng các bên tham gia hợp đồng, giao dịch không ký trước
mặt công chứng viên, nhất là trong trường hợp hợp đồng, giao dịch được
ký ngoài trụ sở.
Từ
sau khi có vụ việc vi phạm tại Văn phòng công chứng Việt Tín nhiều tổ
chức hành nghề công chứng đã yêu cầu các bên tham gia hợp đồng, giao
dịch thực hiện việc điểm chỉ đồng thời với việc ký vào hợp đồng, giao
dịch. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng nhận được sự đồng thuận
của người tham gia hợp đồng, giao dịch. Về vấn đề này, Đoàn thanh tra
thấy rằng để đảm bảo tính an toàn pháp lý cho các hợp đồng, giao dịch
tránh tình trạng giả mạo nhân thân của các bên tham gia giao dịch, cần
sửa đổi Luật Công chứng và đưa chế định bắt buộc điểm chỉ vào hợp đồng
giao dịch để đảm bảo tính an toàn pháp lý cho hợp đồng giao dịch.
2.4.7. Về chữ viết trong văn bản công chứng và việc sửa lỗi kỹ thuật
Điều
40 và Điều 43 Luật Công chứng đã quy định khá cụ thể, rõ ràng về chữ
viết trong văn bản công chứng và việc sửa lỗi kỹ thuật trong văn bản
công chứng. Tuy nhiên, quá trình tổ chức thực hiện nhiều tổ chức hành
nghề công chứng vẫn vi phạm. Cụ thể:
-
Một số hợp đồng giao dịch, đặc biệt là hợp đồng thế chấp tài sản của
Phòng Công chứng số 7, Phòng Công chứng số 9; Văn phòng công chứng Hoàng
Cầu, Kinh Đô còn nhiều chỗ trống; Ngoài ra, một số hợp đồng của Phòng
Công chứng số 2, số 5, số 6, số 9; Văn phòng công chứng Đống Đa, Hoàng
Cầu, Thái Hà, Tuệ Tĩnh, Vạn Xuân vẫn còn lỗi kỹ thuật như: nhầm tên, sai
tên; ghi nhầm vợ thành chồng; ghi nhầm ngày chết; ghi nhầm ôtô thành
nhà; ghi nhầm bên thế chấp thành bên vay hoặc hợp đồng không có ngày,
tháng.
-
Ngoài Phòng công chứng số 2, số 4, số 5 và Văn phòng công chứng Thăng
Long, các tổ chức hành nghề công chứng còn lại việc sửa lỗi kỹ thuật tại
một số văn bản công chứng chưa được thực hiện đúng theo quy định tại
Điều 43 Luật Công chứng như viết đè, viết chèn, dùng bút xóa, cắt một
đoạn văn bản dán đè lên phần có lỗi để sửa lỗi. Thậm chí, hồ sơ số
915/2010/HĐMB của Phòng Công chứng số 4 và hồ sơ của Phòng công chứng số
9 sửa lỗi liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người tham gia hợp đồng,
giao dịch.
2.4.8. Về sửa đổi hợp đồng, giao dịch
Trình
tự thủ tục cũng như thẩm quyền sửa đổi hợp đồng, giao dịch được quy
định cụ thể tại Điều 44 Luật Công chứng. Còn việc sửa đổi hợp đồng, giao
dịch được quy định cụ thể tại Điều 423 Bộ Luật dân sự
Một
số hồ sơ của Phòng công chứng số 1; Văn phòng công chứng Hoàng Cầu và
Văn phòng công chứng Kinh Đô sửa đổi hợp đồng giao dịch không đúng quy
định của Luật Công chứng, cụ thể đã sử dụng hình thức đính chính hợp
đồng thay bằng việc sửa đổi hợp đồng.
2.4.9. Một số vi phạm khác
-
Ngoài các sai phạm nêu trên, một số hồ sơ của Phòng công chứng số 7 có
đối tượng của hợp đồng, giao dịch không đúng với giấy tờ sở hữu, sử
dụng. Cụ thể, một số hợp đồng mua bán nhà, đất trên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất chỉ ghi mảnh đất được giao dịch, nhưng hợp đồng giao
dịch ngoài mảnh đất còn ghi cả nhà trên đất.
-
Một số hồ sơ bán đấu giá tài sản được công chứng viên Phòng công chứng
số 2 công chứng thiếu biên bản định giá tài sản; địa chỉ trụ sở công ty
bán đấu giá tài sản không khớp với địa chỉ ghi trên giấy phép đăng ký
kinh doanh và có hai hồ sơ bán đấu giá có cùng số công chứng.
-
Một số hồ sơ công chứng của Phòng công chứng số 2, số 5, số 6 và số 8
đại diện ủy quyền của ngân hàng ký hợp đồng thế chấp tài sản trong đó có
điều khoản cho vay quá hạn mức cho phép (vượt quá phạm vi được ủy
quyền).
2.4.10. Một số hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng
Đoàn thanh tra đã phát hiện 04 hồ sơ công chứng có nội dung, hợp đồng, giao dịch vi phạm pháp luật. Cụ thể:
- Hợp đồng số 1320/2009/HĐTC của Phòng Công chứng số 9 vi phạm Điều 37 Luật Công chứng về thẩm quyền công chứng.
-
Hợp đồng số 1351/2009/HĐTC của Phòng Công chứng số 9 đã vi phạm khoản 1
Điều 144 Bộ Luật Dân sự. Cụ thể, tại Hợp đồng này, người được ủy quyền
đã ký hợp đồng thế chấp tài sản với ngân hàng để cho bên thứ ba do chính
mình làm đại diện ủy quyền vay vốn. Mặt khác, Tài sản thế chấp thể hiện
trong hợp đồng là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Điều này, vô hình
chung đã làm sai lệch bản chất của hợp đồng giao dịch.
-
Văn bản từ chối nhận tài sản thừa kế số 830/2010 và 831/2010, vi phạm
Điều 642 Bộ Luật dân sự và điểm b, khoản 2, điều 20 Nghị định số
60/2009/NĐ-CP. Trường hợp này, ngoài việc yêu cầu huỷ giao dịch, Đoàn
thanh tra đã lập biên bản vi phạm hành chính và đề nghị Chánh Thanh tra
ra Quyết định xử phạt.
Tại
Điều 12 Luật Công chứng đã quy định nghiêm cấm công chứng viên thực
hiện công chứng trong trường hợp mục đích và nội dung của hợp đồng, giao
dịch vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội. Dó đó, Đoàn thanh tra đã
yêu cầu các công chứng viên thực hiện công chứng các hợp đồng, giao dịch
trên phải tiến hành các thủ tục cần thiết để huỷ ngay các hợp đồng,
giao dịch.
Một
số hồ sơ bán đấu giá tài sản được công chứng viên Phòng công chứng số 1
và số 2 ký vào Hợp đồng bán đấu giá tài sản trước khi tổ chức bán đấu
giá hoặc trước khi phiên đấu giá kết thúc. Đoàn Thanh tra đã yêu cầu rà
soát lại toàn bộ các hợp đồng bán đấu giá tài sản để sửa lỗi kỹ thuật,
kịp thời khắc phục và không để thông tin tiết lộ ra bên ngoài sẽ gây hậu
quả pháp lý tương tự như vụ 36 Nguyễn Thị Diệu – Tp Hồ Chí Minh.
3. Về việc thu - chi phí công chứng, thù lao công chứng
Hầu
hết các tổ chức hành nghề công chứng được thanh tra đều chấp hành tương
đối tốt quy định của pháp luật về kết toán, thống kê, về thuế, về thu,
chi phí công chứng, thù lao công chứng, về quản lý, sử dụng các khoản
thu này như: Thực hiện việc mở sổ sách kế toán đầy đủ theo chế độ quy
định, hạch toán rõ ràng, dễ xem, đáp ứng được yêu cầu quản lý, tương đối
thuận lợi cho công tác thanh tra, kiểm tra. Hầu hết các các khoản thu,
chi đều được lập hóa đơn, chứng từ đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ. Thực hiện
tốt việc lập báo cáo quyết toán.
Tuy nhiên, vẫn
còn tổ chức hành nghề công chứng chấp hành chưa tốt quy định của pháp
luật về thu, chi, quản lý và sử dụng phí công chứng và thù lao công
chứng. Cụ thể:
-
Phòng công chứng số 7 đã không tiến hành mở sổ sách và hạch toán kế
toán theo quy định như: Không mở sổ cái, sổ chi tiết hoạt động…; Sổ quỹ
tiền mặt, sổ tiền gửi được lập hết sức sơ sài, không đóng dấu giáp lai,
không có chữ ký của chủ tài khoản; Mặc dù đơn vị có lập chứng từ thu phí
công chứng và thù lao công chứng theo quy định, nhưng việc ghi chứng từ
không khoa học nên rất khó theo dõi, kiểm tra, kiểm soát và việc hạch
toán cũng không theo quy định. Toàn bộ chứng từ thu phí công chứng và
thù lao công chứng của 01 tháng được kế toán tập hợp thành 02 tập (01
tập chứng từ thu phí và 01 tập chứng từ thu thù lao công chứng) bên
ngoài mỗi tập chứng từ có ghi tổng số tiền thu được của tháng, trên cơ
sở số tiền đó, kế toán thực hiện việc ghi sổ mà không có bảng kê chi
tiết kèm theo. Chính việc theo dõi như vậy, nên do thời gian có hạn Đoàn
thanh tra không thể kết luận được Phòng Công chứng số 7 có để ngoài sổ
sách các khoản thu từ nguồn phí công chứng và thù lao công chứng hay
không. Mặt khác, qua kiểm tra xác suất một số chứng từ thu phí công
chứng tại Phòng công chứng số 7 cho thấy, mặc dù các việc công chứng
được kiểm tra đều được đơn vị thực hiện việc thu phí, nhưng có một số vụ
việc mức thu phí công chứng không đúng với quy định tại Thông tư số
91/2007/TTLT- BTP-BTC của liên Bộ, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính về việc
thu phí công chứng.
Và
điều đáng nói là những thiếu sót, sai phạm này đã được Đoàn Thanh tra
công chứng của Bộ nhắc nhở và yêu cầu phải nghiêm túc kiểm điểm, khắc
phục những thiếu sót sai phạm. Cũng như, kiểm điểm trách nhiệm đối với
cá nhân có liên quan trong việc tổ chức thực hiện, lãnh đạo, chỉ đạo
điều hành.
-
Văn Phòng Công chứng Thăng Long: Qua thanh tra cho thấy mặc dù đơn vị
đã thực hiện nghiêm túc quy định của pháp luật về mở sổ sách kế toán, đã
hạch toán kịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Tuy nhiên, việc Văn
phòng công chứng Thăng Long chi tiền hoa hồng soạn thảo văn bản, phôtô
tài liệu, thu thập tài liệu cho Ngân hàng Techcombank và Habubank theo
tỷ lệ % trên doanh thu thực hiện và hạch toán khoản chi này vào chi phí
theo Đoàn Thanh tra là chưa hợp lý và việc làm này, vô hình chung đã tạo
ra sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các Tổ chức hành nghề công chứng.
Việc Văn phòng Công chứng Thăng Long cho rằng theo quy định của pháp
luật, Văn phòng Công chứng được tổ chức và hoạt động theo loại hình
doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh nên việc chi thù lao công
chứng cho ngân hàng là hợp lý và phù hợp với mô hình quản lý tài chính
của Văn phòng công chứng là không thể chấp nhận được. Đoàn Thanh tra đã
yêu cầu Văn phòng công chứng Thăng long phải chấm dứt ngay các khoản chi
trên.
4. Về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
Qua
thanh tra cho thấy, kể từ khi thực hiện Luật Công chứng cho đến nay số
lượng các vụ việc khiếu nại, tố cáo về công chứng không nhiều. Hầu hết
các vụ việc khiếu nại đều đơn giản và nội dung chủ yếu là khiếu nại việc
từ chối công chứng. Cho đến nay, các vụ việc khiếu nại này đã được các
tổ chức hành nghề công chứng giải quyết dứt điểm. Ngoài ra, có một số vụ
việc khiếu nại các bên tham gia giao dịch giả mạo giấy tờ. Cá biệt, tại
Văn phòng công chứng Đống Đa trong quá trình chuyển đổi loại hình hoạt
động từ Văn phòng công chứng do một công chứng viên thành lập sang loại
hình Văn phòng công chứng do hai công chứng viên trở lên thành lập, công
chứng viên Cáp Văn Chinh có khiếu nại một số vấn đề. Hiện nay, vấn đề
này đã được giải quyết dứt điểm.
Tuy
nhiên, các vụ việc tố cáo lại tương đối phức tạp, hầu hết các vụ việc
tố cáo đều liên quan đến việc giả mạo giấy tờ. Hiện nay, cơ quan điều
tra Công an thành phố Hà Nội đang thụ lý một số vụ việc. Đoàn Thanh tra
đã làm việc với công chứng viên Hoàng Văn Sự (Phòng Công chứng số 5) và
Điều tra viên của cơ qua cảnh sát điều tra tại 60 Trần Phú, nội dung vụ
việc như sau:
Vụ việc tại Phòng công chứng số 5:
Vụ việc thứ nhất:
Đối với Hợp đồng uỷ quyền ngày 21/5/2008, giữa bên uỷ quyền ông Trần
Văn Mạnh bà Nguyễn Thị Nương và bên được uỷ quyền Nguyễn Thu Hợp. Số
công chứng 440/HĐUQ/2008, Quyển số 01TP/C SCC/HĐGD.
Khi
tiếp nhận hồ sơ, ông Hoàng Văn Sự là Công chứng viên đồng ý cho sử dụng
CMND của ông Mạnh là bản photocoppy, nhưng không có bản chính để đối
chiếu và cho các bên tham gia ký hợp đồng ủy quyền ký tên, điểm chỉ vào
bản hợp đồng. Theo tài liệu điều tra các đối tượng đã photocopy mặt
trước CMND của ông Mạnh (có dán ảnh của Nguyễn Toàn người đóng giả ông
Mạnh), photocopy mặt sau CMND của anh Toàn ghép thành CMND của ông Mạnh
để đưa vào hồ sơ công chứng (mặt sau CMND có dấu vân tay của anh Toàn).
Ông Hoàng Văn Sự khai đã đồng ý cho ông Mạnh sử dụng CMND phôtôcoppy,
nhưng yêu cầu phải có Giấy khai sinh của con ông Mạnh và bà Nương để đưa
vào hồ sơ. Ông Sự đã không lường trước được Hạnh, Hợp, Nương đã thuê
người đóng giả ông Mạnh để ký hợp đồng.
Như
vậy, khi tiến hành công chứng Hợp đồng uỷ quyền này, công chứng viên đã
bỏ qua nguyên tắc xác định nhân thân của người yêu cầu công chứng,
không yêu cầu người yêu cầu công chứng xuất trình CMND nên đã công chứng
không đúng với quy định của pháp luật. Hợp đồng uỷ quyền là trái pháp
luật phải được huỷ bỏ.
Vụ việc thứ hai:
Đối với Hợp đồng uỷ quyền, số công chứng: 782/HĐUQ/2007 Quyển số: 01
TP/C SCC/HĐGD ngày 07/8/2007, giữa bên uỷ quyền ông Lê Mạnh Tuấn, bà
Phương Thị Thuyên và bên được uỷ quyền Vũ Thị Minh Hoà. Phạm vi uỷ
quyền:
Tài
sản uỷ quyền: địa chỉ thửa đất tại Tổ 4 cụm 1, phường Xuân La, quận Tây
Hồ, Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 399092 hồ sơ
gốc số 619/2005/QĐ - UB/62/2005 do UBND quận Tây Hồ cấp ngày 28/6/2005.
Tài sản gắn liền với đất là nhà xây 1 tầng, diện tích 28m2, diện tích sử
dụng 24m2
Nội
dung uỷ quyền: đem thế chấp hoặc thế chấp cho bên thứ 3 theo qui định
của pháp luật, để làm thủ tục vay vốn Ngân hàng và các cơ quan tổ chức
tín dụng.
Khi
tiếp nhận hồ sơ công chứng, không có CMND của ông Tuấn mà chỉ có đơn đề
nghị cấp lại CMND mang tên Lê Mạnh Tuấn có xác nhận của Công an phường
Xuân La. Khi tiến hành công chứng Hợp đồng uỷ quyền này, công chứng viên
cũng đã bỏ qua nguyên tắc xác định nhân thân, không có CMND nên đã công
chứng không đúng với người ủy quyền. Hợp đồng uỷ quyền là trái pháp
luật phải được huỷ bỏ.
Vụ việc thứ 3:
Đối với Hợp đồng uỷ quyền, số công chứng: 703/HĐUQ/2007 Quyển số: 01
TP/C SCC/HĐGD ngày 9/8/2007, giữa bên uỷ quyền ông Lê Mạnh Tuấn, bà
Phương Thị Thuyên và bên được uỷ quyền Vũ Thị Minh Hoà. Phạm vi uỷ
quyền:
Tài
sản uỷ quyền: địa chỉ thửa đất tại Tổ 4 cụm 1, phường Xuân La, quận Tây
Hồ, Hà Nội, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 399092 hồ sơ
gốc số 619/2005/QĐ - UB/62/2005 do UBND quận Tây Hồ cấp ngày 28/6/2005.
Tài sản gắn liền với đất là nhà xây 1 tầng, diện tích 28m2
Nội
dung uỷ quyền: đem chuyển nhượng, thế chấp hoặc thế chấp cho bên thứ 3
theo qui định của pháp luật, để làm thủ tục vay vốn Ngân hàng và các cơ
quan tổ chức tín dụng.
Trên
hợp đồng ghi rõ bên uỷ quyền là ông Lê Mạnh Tuấn mất CMND có xác nhận
của Công an phường Xuân La, Công chứng viên xác định nhân thân không
đúng pháp luật, hợp đồng giao kết không đúng người yêu cầu công chứng.
Hợp đồng này đã giao kết không đúng người yêu cầu công chứng nên phải được huỷ bỏ.
Ngoài ra, còn một số vụ việc tranh chấp, như: Yêu cầu giải quyết hợp
đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 177.2010/MBN công
chứng ngày 26/2/2010; Yêu cầu giải quyết về Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất số 254.2010/CNQSDĐ do công chứng viên Văn phòng công
chứng Thái Hà thực hiện. Vụ việc này đang được Toà án giải quyết.
Qua
nghiên cứu các quy định của Luật Công chứng về vấn đề khiếu nại công
chứng cho thấy quy định này có nhiều điểm không phù hợp. Cụ thể:
Theo
quy định tại Điều 63 Luật Công chứng, người yêu cầu công chứng có quyền
khiếu nại về việc từ chối công chứng khi có căn cứ cho rằng việc từ
chối đó là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của
mình và việc giải quyết khiếu nại đối với vấn đề này được Trưởng Phòng
công chứng và Trưởng Văn phòng công chứng thực hiện (lần 1); Giám đốc Sở
Tư pháp giải quyết lần 2.
Tuy
nhiên, theo quy định hiện hành thì công chứng viên của Phòng Công chứng
là viên chức nhà nước nên bất cứ hành vi nào của công chứng viên trong
quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình (không chỉ hành vi từ
chối công chứng) đều được coi là hành vi hành chính và đều bị khiếu nại.
Trình tự thủ tục cũng như thẩm quyền giải quyết được thực hiện theo
Luật Khiếu nại, tố cáo và các văn bản hướng dẫn thi hành. Do vậy, nếu
quy định như Điều 63 thì cùng là hành vi hành chính bị khiếu nại, nhưng
cách giải quyết lại khác nhau. Hơn nữa, việc quy định như điều 63 hiện
nay làm cho nhiều người hiểu là chỉ hành vi từ chối công chứng mới bị
người yêu cầu công chứng khiếu nại, còn các hành vi khác không được
khiếu nại. Do đó cần sửa đổi và bổ sung chương giải quyết khiếu nại, tố
cáo vào Luật Công chứng .
IV. MỘT SỐ HẠN CHẾ, BẤT CẬP PHÁT HIỆN QUA THANH TRA VÀ KIẾN NGHỊ CỦA ĐOÀN THANH TRA
1. Một số vướng mắc, bất cập
Qua thanh tra công tác công chứng tại Hà Nội thấy nổi lên một số vướng mắc, bất cập sau:
1.1. Về thể chế
Luật
Công chứng năm 2006 được ban hành, qua hơn 03 năm thực hiện đã bắt đầu
bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập, cần phải được nghiên cứu sửa đổi. Cụ
thể:
-
Về điều kiện thành lập Văn phòng công chứng và tiêu chuẩn bổ nhiệm công
chứng viên: Thực tế quá trình thực hiện luật Công chứng trong thời gian
qua cho thấy đây là công việc đặc thù chứa đựng không ít rủi ro và để
có một Văn phòng công chứng với đầy đủ trang thiết bị đáp ứng được yêu
cầu công chứng của công dân ngoài việc phải có đội ngũ công chứng viên
chuyên nghiệp với trình độ hiểu biết pháp luật về đất đai, nhà ở, dân
sự, kinh tế...có tâm với nghề thì cũng cần phải có một số vốn nhất định
để mua sắm trang thiết bị phục vụ công tác và phải có một khoản kinh phí
đề phòng rủi ro. Tuy vậy, vấn đề này được Luật Công chứng quy định quá
dễ dãi. Do vậy, Đoàn thanh tra đề nghị Bộ Tư pháp có hướng dẫn cụ thể về
vấn đề này.
-
Về các trường hợp miễn đào tạo nghề công chứng: Theo quy định hiện hành
có quá nhiều đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng, trong khi đó
những người đã từng là công chứng viên lại không được miễn đào tạo nghề,
do đó cần sửa đổi bổ sung Luật Công chứng theo hướng loại bỏ bớt các
đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng nhưng đặc cách bổ nhiệm công
chứng viên cho người đã từng là công chứng viên.
- Cần bổ sung khoản 2, Điều 20 của Luật Công chứng là: “Công
chứng chứng viên bị miễn nhiệm khi Bộ trưởng Bộ Tư pháp xem xét và kết
luận việc bổ nhiệm công chứng viên là không đúng tiêu chuẩn theo Điều
13 hoặc thuộc những trường hợp không được bổ nhiệm công chứng viên theo
Điều 19 của Luật Công chứng”.
-
Về phí công chứng: Đoàn thanh tra cho rằng mức phí công chứng hiện tại
là phù hợp (tối đa là 10 triệu đồng/01 hợp đồng) vì mặt bằng giá cả thị
trường đã cao hơn thời điểm ban hành Thông tư 91, hơn nữa đối với những
hợp đồng có giá trị giao dịch càng lớn thì trách nhiệm pháp lý của công
chứng viên càng cao (kể cả trách nhiệm bồi thường).
-
Về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp: Luật Công chứng mới chỉ quy định
Văn phòng công chứng phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho công
chứng viên của tổ chức mình, trong khi đó không chỉ hoạt động của công
chứng viên Văn phòng mới gây ra rủi ro mà hoạt động của công chứng viên
các Phòng công chứng cũng có thể gây ra rủi ro.
-
Một số quy định chưa có hướng dẫn cụ thể như: Vấn đề từ chối công
chứng; Phiếu yêu cầu công chứng; Sổ công chứng; Công chứng ngoài trụ sở;
...
-
Về nghiệp vụ công chứng, hiện nay, ngoài một số Công văn hướng dẫn
nghiệp vụ như: Công văn số 257/BTP-HCTP ngày 09/5/2007 v/v công chứng
hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai; Công văn số
3744/BTP-HCTP ngày 04/9/2007 v/v công chứng giao dịch bảo đảm; Công văn
số 3834/BTP-HCTP ngày 10/9/2007 về nghiệp vụ công chứng... chưa có văn
bản pháp quy nào hướng dẫn cụ thể về vấn đề này.
-
Về công chứng hợp đồng ủy quyền: Hiện nay, việc công chứng hợp đồng ủy
quyền liên quan đến ôtô và bất động sản rất nhiều. Hầu hết các trường
hợp có nội dung là ủy quyền toàn quyền quản lý, sử dụng, thế chấp,
chuyển nhượng, cho tặng tài sản. Điều đó tiềm ẩn rất nhiều rủi ro và rất
dễ bị các bên lợi dụng để mua bán tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp
thuế đối với nhà nước mà Công chứng viên không có quyền từ chối thực
hiện. Do đó trước khi ký vào lời chứng thì công chứng viên phải giải
thích rõ cho người ủy quyền biết nội dung ủy quyền, khả năng rủi ro có
thể xảy ra khi ủy quyền định đoạt tài sản. Để đảm bảo chặt chẽ thì cần
thực hiện 02 việc sau:
+ Bổ sung vào lời chứng nội dung: “Công
chứng viên đã giải thích đầy đủ nội dung ủy quyền và các khả năng xảy
ra rủi ro khi ủy quyền địch đoạt tài sản cho bên ủy quyền và bên được ủy
quyền. Cả hai bên đã hiểu rõ và hoàn toàn tự nguyện thỏa thuận nội dung
hợp đồng nêu trên và tự chịu trách nhiệm về hậu quả pháp lý khi có
tranh chấp xảy ra”.
+ Bổ sung vào phần bên ủy quyền ký (phía trên chữ ký của người ủy quyền) với nội dung sau: “ Tôi
đã nghe rõ và hiểu đầy đủ nội dung giải thích của Công chứng viên về
nội dung ủy quyền và các khả năng xảy ra rủi ro khi ủy quyền địch đoạt
tài sản. Tôi đã hiểu rõ và hoàn toàn tự nguyện thỏa thuận nội dung hợp
đồng nêu trên và tự chịu trách nhiệm về hậu quả pháp lý khi có tranh
chấp xảy ra”.
- Về khiếu nại, hiện nay còn nhiều bất cập như đã đề cập ở mục 4 phần III.
- Một số quy định của Luật Công chứng và các văn bản có liên quan còn mâu thuẫn chồng chéo.
-
Chưa có hướng dẫn cụ thể về việc thông báo khai nhận di sản tại địa
phương có di sản để lại vì hiện nay còn có nhiều cách hiểu khác nhau và
áp dụng khác nhau. Có nơi thì vẫn niêm yết thông báo theo Nghị định
75/CP trong thời hạn 30 ngày nhưng có tổ chức hành nghề công chứng lại
không niêm yết thông báo vì cho rằng Luật Công chứng không quy định
phải niêm yết.
- Về nội dung giấy xác nhận tình trạng hôn nhân hiện nay đang áp dụng theo 02 quan điểm:
+
Quan điểm 1: Chỉ cần xác nhận tình trạng hôn nhân ở giai đoạn sát ngay
thời điểm ký hợp đồng giao dịch vì có công văn hướng dẫn của Vụ Hành
chính Bộ Tư pháp về nội dung thực hiện như trên.
+
Quan điểm 2: Phải xác nhận tình trạng hôn nhân ở tất cả các giai đoạn, ở
các nơi cư trú vì công văn hướng dẫn của Vụ Hành chính Bộ Tư pháp chỉ
sử dụng đối với trường hợp người yêu cầu xác nhận dùng để đăng ký kết
hôn, còn giao dịch có liên quan đến tài sản thì vẫn phải xác nhận đầy đủ
từ khi đủ tuổi kết hôn đến thời điểm giao kết hợp đồng.
Theo
Đoàn Thanh tra thì mục đích chính của công chứng viên là phải xác định
rõ tài sản thuộc sở hữu chung hay riêng nên có nhiều phương pháp để xác
minh vấn đề này, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là một căn cứ quan
trọng nên để đảm bảo an toàn pháp lý cần thực hiện theo quan điểm 2.
-
Cần hướng dẫn cụ thể các trường hợp được công chứng ngoài trụ sở vì
hiện tượng công chứng ngoài trụ sở vẫn tràn lan và không nêu lý do cụ
thể hoặc không có lý do. Đặc biệt, có nhiều trường hợp công chứng viên
giao cho nhân viên đi lấy chữ ký của khách hàng và kiểm tra hồ sơ. Trong
trường hợp này chưa đảm bảo an toàn pháp lý vì nhân viên đã toàn quyền
thay mặt công chứng viên để xác định: nhân thân người yêu cầu công
chứng, năng lực hành vi của người yêu cầu công chứng, hồ sơ giấy tờ gốc
về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.
-
Trong thực tế việc công chứng viên yêu cầu người yêu cầu công chứng
phải điểm chỉ vào hợp đồng là rất khó khăn vì Luật công chứng không bắt
buộc. Đoàn Thanh tra đề nghị các tổ chức hành nghề công chứng phải trang
bị thiết bị kỹ thuật kiểm tra, chụp sao lưu vân tay trong hồ sơ công
chứng để xác định rõ nhân thân mà người yêu cầu công chứng không cần
phải điểm chỉ vào văn bản.
-
Cần xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất toàn quốc trong lĩnh vực công
chứng để kiểm tra, đối chiếu tài sản đã mang ra giao dịch, phòng ngừa
hiện tượng lừa đảo, một tài sản mang đi giao dịch nhiều loần ở nhiều
nơi.
1. 2. Về tổ chức thực hiện
-
Trong 03 năm vừa qua, cùng với các Phòng công chứng các Văn phòng công
chứng đã không ngừng được hoàn thiện và đã giải quyết được một số lượng
lớn vụ việc công chứng, đáp được cơ bản yêu cầu công chứng của công dân.
Tuy nhiên, việc quy hoạch phát triển nghề công chứng còn hạn chế, nên
chỉ trong một thời gian ngắn đã có 42 Văn phòng công chứng được thành
lập lại được phân bổ chủ yếu ở các quận nội thành Hà Nội. Do đó, đã có
hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức hành nghề công
chứng nhằm thu hút khách hàng. Mặt khác, do việc phân bố không đều nên ở
những vùng xa trung tâm, việc yêu cầu công chứng của cá nhân, công dân,
tổ chức đã phần nào gặp khó khăn.
-
Các tổ chức hành nghề công chứng chưa thực sự tuân thủ các quy định
pháp luật về công chứng, tình trạng vi phạm của các tổ chức là khá
nhiều. Tuy nhiên, đa số các vi phạm chưa đến mức phải hủy hợp đồng, giao
dịch.
-
Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Tài nguyên môi trường,
Văn phòng đăng ký nhà đất, Cơ quan giao dịch bảo đảm, Cơ quan thuế, Cơ
quan công chứng. Do vậy, đã phần nào gây khó khăn cho người yêu cầu công
chứng khi thực hiện các giao dịch tại các cơ quan khác có liên quan.
-
Hiện nay, mặc dù UBND thành phố Hà Nội đã có Quyết định phân định thẩm
quyền công chứng các hợp đồng, giao dịch trên địa bàn thành phố Hà Nội,
theo đó, các giao dịch về bất động sản trước đây do UBND cấp xã thực
hiện được chuyển giao sang cho tổ chức hành nghề công chứng. Nhưng hiện
nay, vẫn còn một số huyện chưa nghiêm túc thực hiện vấn đề này như huyện
Mê Linh, Sóc Sơn.
-
Do quá dễ dãi trong tiêu chuẩn, cũng như điều kiện bổ nhiệm công chứng
viên nên trình độ của các công chứng viên không đồng đều. Rất nhiều công
chứng viên (của Văn phòng công chứng) là cán bộ đã nghỉ hưu nên việc tổ
chức, điều hành hoạt động công chứng phần nào hạn chế.
-
Việc cấp thẻ công chứng viên còn chậm nên gây khó khăn cho người hành
nghề công chứng và người có thẩm quyền không thể xử phạt theo hình thức
xử phạt tước thẻ công chứng viên (do đó làm vô hiệu chế tài nghiêm khắc,
mang nặng tính răn đe này)
-
Hiểu biết pháp luật nói chung và pháp luật về công chứng nói riêng của
một bộ phận nhân dân còn hạn chế. Người dân do không hiểu rõ các thủ tục
công chứng nên đã gây khó khăn, bức xúc cho các công chứng viên và các
nhân viên của tổ chức hành nghề công chứng. Do vậy, cần phải tăng cường
các biện pháp tuyên truyền pháp luật cho nhân dân.
2. Kiến nghị
Trên cơ sở kết quả thanh tra nêu trên Đoàn Thanh tra kiến nghị:
2.1. Lãnh đạo Bộ Tư pháp
-
Chỉ đạo Vụ Bổ trợ Tư pháp tiến hành rà soát toàn bộ các quy định của
pháp luật về công chứng, đất đai, dân sự, giao dịch bảo đảm, nhà
ở...liên quan đến nghiệp vụ công chứng nhằm phát hiện ra những vấn đề
còn chồng chéo, kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền sửa đổi cho phù hợp.
- Sớm ban hành Thông tư hướng dẫn về nghiệp vụ công chứng có tham khảo đến nội dung những vướng mắc, bất cập vừa nêu trên.
-
Sớm có chỉ dạo, hưóng dẫn xây dựng đề án quy hoạch, phát triển các tổ
chức hành nghề công chứng và hướng dẫn thành lập hiệp hội công chứng.
- Sớm cấp thẻ công chứng viên để tạo điều kiện thuận lợi cho công chứng viên khi hành nghề.
2.2. Sở Tư pháp thành phố Hà Nội
-
Tổ chức kiểm điểm rút kinh nghiệm sâu sắc đối với Phòng công chứng số
9, Phòng công chứng số 7 về những sai phạm nghiêm trọng đã nêu trên,
kiện toàn tổ chức và có hình thức kỷ luật thỏa đáng đối với các cán bộ
sai phạm.
-
Kiến nghị với Lãnh đạo thành phố chỉ đạo các cơ quan nhà đất, thuế,
giao dịch bảo đảm...ban hành thủ tục thống nhất nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho các tổ chức hành nghề công chứng và công dân.
-
Kiến nghị với UBND thành phố chỉ đạo các huyện thực hiện nghiêm túc
Quyết định số 5434/QĐ-UBND ngày...của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành
phố Hà Nội.
-
Thường xuyên tiến hành thanh tra, kiểm tra các tổ chức hành nghề công
chứng và tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng.
-
Có biện pháp luân chuyển công chứng viên của các Phòng Công chứng nhất
là công chứng viên của Phòng công chứng số 8 và số 9 để họ có điều kiện
học tập, trao đổi kinh nghiệm.
2.3. Đối với các tổ chức hành nghề công chứng
Văn
phòng công chứng Thăng Long, Văn phòng Công chứng Đống Đa phải nghiêm
túc thực hiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Chánh Thanh tra
Bộ.
Các
tổ chức hành nghề công chứng phải nghiêm túc kiểm điểm, rà soát, tự
chấn chỉnh, rút kinh nghiệm, chấm dứt ngay các hành vi sai phạm và tiến
hành ngay các biện pháp cần thiết để khắc phục những thiếu sót, vi phạm
mà Đoàn thanh tra đã chỉ ra và gửi báo cáo kết quả về việc tự chấn
chỉnh, khắc phục các sai phạm về Thanh tra Bộ để Thanh tra Bộ có tài
liệu tham khảo phục vụ cho việc kiểm tra thực hiện kết luận thanh tra.
Trên
đây là một vài kinh nghiệm được rút ra qua đợt thanh tra chuyên ngành
trong lĩnh vực công chứng tại thành phố Hà Nội, chúng tôi xin nêu ra để
quý đọc giả cùng tham khảo, rất mong tiếp nhận những ý kiến phản hồi,
trao đổi của đồng chí, đồng nghiệp để cùng nhau xây dựng nghiệp vụ cho
Ngành ngày càng hoàn thiện hơn. Mọi chia sẻ thông tin, kiến thức hoặc
hỏi đáp, thắc mắc về nghiệp vụ thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo
xin liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ của tác giả: Hoàng Quốc Hùng -
Thanh tra Bộ Tư pháp, Tel: 8231127 & 0913001513 & Email: Hunghq@moj.gov.vn./.